Hiển thị các bài đăng có nhãn du kí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn du kí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Ghi chép trên xứ chùa tháp 7 – Cảm nghĩ về du lịch Campuchea

http://mw2.google.com/mw-panoramio/photos/medium/30196465.jpgThế là tôi đã ở trên xứ chùa tháp 4 ngày. Tuy thời gian quá ngắn, nhưng chuyến đi thật sự là một kỉ niệm khó quên trong đời. Nếu có một nơi nào đi qua mà tôi muốn quay lại thì đó chính là Siem Reap và Phnom Penh. Chắc chắn tôi sẽ quay lại xứ chùa tháp một ngày không xa để cảm nhận nhiều hơn nữa văn hoá và con người ở đây. Những trải nghiệm trong thời gian ngắn ngủi vừa qua đã để lại trong tôi vài cảm nghĩ mà tôi muốn ghi lại dưới đây như là một cách chia sẻ cùng các bạn.


Dấu ấn người Việt 

Tôi đã nói về một nền du lịch đàng hoàng ở Siem Reap, nhưng tôi chưa nói đằng sau những dịch vụ du lịch đó là một người Việt Nam. Thật ra, toàn bộ chương trình du lịch ở Angkor Thom và Angkor Wat đều do một công ti tư nhân điều hành. Đó là công ti Sokimex, mà người chủ tịch là ông Sáu Cò, người gốc Đồng Tháp. Kể từ năm 1990, Sokimex đã “mướn” Angkor Thom và Angkor Wat để kinh doanh du lịch, và họ quản lí rất tốt. Khoảng 28% thu nhập từ bán vé được sung vào quĩ để trùng tu và duy trì các đền điện đang xuống cấp. Không rõ đằng sau những hợp đồng như thế ra sao, nhưng với một chương trình du lịch có trước có sau như thế thì thật là đáng khen.

Tất cả các dịch vụ du lịch ở đây được tổ chức rất chặt chẽ. Ngay từ khâu mua vé đến người hướng dẫn đều được quản lí – theo tôi – là rất chuyên nghiệp. Mỗi vé đều có in hình của khách và những thông tin cơ bản. Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao in hình thì được giải thích rằng phải làm như thế để tránh tình trạng gian lận. Người hướng dẫn cho tôi biết trước đây có nạn du khách Hàn Quốc mua vé đi tham quan xong, về khách sạn họ cho vé người khác đi tiếp! Tất cả đều không qua được mắt ông Sáu Cò. Thế là sau đó, ông cho in hình khách trên vé, nhưng lí do lịch sự hơn: mỗi vé là một kỉ niệm, chuyến tham quan Angkor Thom và Angkor Wat là một kỉ niệm khó quên. Tôi lại thấy cách làm này rất đáng học hỏi.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEir8EDsfG_EtoCRtJ4o0hjzSnUuPzZQaSRd1xmD07PmQ43XK5AlRhGZkjV4xp5Rnkwu4_G7-zAcY9x37nr6giR3Gb5Ybr7fDDsD0nmLvjj7kDs7lJ5frPIVusSsFVRijSQlqMHM2fZNFSo/s1600/Angkor_Wat_temple_Cambodia_tourism_Phnom+Penhcity_pictures.jpg

Bất cứ người hướng dẫn nào ở khu này đều phải qua huấn luyện có bài bản. Người hướng dẫn dẫn chúng tôi từ Việt Nam sang đây không có quyền dẫn chúng tôi vào tham quan Angkor Thom và Angkor Wat, vì anh ấy không có chứng chỉ hành nghề. Do đó, anh phải mướn một hướng dẫn viên có chứng chỉ, và người này là một người Khmer nhưng rất quen với người Việt và văn hóa Việt Nam. Anh ta mặc đồng phục, có cây gậy để dẫn đường, đeo bảng tên đàng hoàng. Thật ra, sau một ngày tìm hiểu, tôi mới biết anh từng là sĩ quan trong quân đội Hun Sen, anh từng theo học một hay hai năm (tôi quên) tại trung tâm huấn luyện sĩ quan ở Đồng Nai, nên anh biết viết và nói Việt rất khá. Sau khi giãi ngủ, anh chuyển sang nghề làm hướng dẫn viên. Trong câu chuyện của anh, anh nhắc đến ông Sáu Cò rất nhiều lần với sự kính trọng. Khi hỏi chuyện gì tế nhị về điều hành du lịch, anh nói không được đâu, ông Sáu Cò la chết, ổng khó lắm, nhưng tôi đồng ý với cái khó của ổng. Điều làm tôi ấn tượng với anh hướng dẫn này là anh rất am hiểu lịch sử CPC và Việt Nam. Anh có thể so sánh những thời điểm giữa Việt Nam và CPC để khách có thể hình dung ra thời điểm xây những ngôi đền. Điều này chứng tỏ anh được huấn luyện rất kĩ và có hệ thống.

Một điều khác cũng làm tôi ấn tượng không kém là anh không bao giờ tỏ ra tuyên truyền. Không giống như những hướng dẫn viên Việt Nam hay tuyên truyền theo kiểu một chiều làm cho du khách chán ngán. Nghe nhiều hướng dẫn viên Việt Nam người ta có cảm giác họ là cái máy nói hay con vẹt thì đúng hơn. Có lần tôi đi tham quan ở Phú Quốc, gặp một cô hướng dẫn rất dễ thương, nhưng khi nói về lịch sử thì rõ ràng cô ấy chỉ biết có một chiều. Tất cả những gì của chính quyền VNCH đều xấu xa, đáng phỉ nhổ; và tất cả những gì của “phe ta” đều tuyệt vời, lãnh đạo ta thiên tài, chính sách ta là tuyệt vời, v.v. Tôi không biết cô ấy có thật sự tin vào những gì cô nói không, nhưng với những người biết lịch sử, thì những lời nói của cô chứng tỏ cô đã bị bị tẩy não, và người ta thấy thương [hại] cho cô. Còn anh hướng dẫn người Khmer của tôi thì ngược lại. Anh nói về lịch sử bằng cái nhìn của người biết chuyện. Anh dành những lời kính trọng cho chính quyền Lon Non, dù anh từng là sĩ quan trong đoàn quân đối thủ. Anh nói về hai đảng phái chính trị hiện nay một cách cân bằng. Anh cũng rất tế nhị không nói gì về những tranh chấp giữa CPC và Việt Nam mà tôi cố ý “khiêu khích” để anh nói. Tôi hỏi anh rằng người Việt Nam có hoàn toàn vô tội trong việc để CPC nghèo như hiện nay, nhưng anh thì nói người Khmer lúc nào cũng ghi ơn quân đội Việt Nam đã cứu họ khỏi thảm hoạ Pol Pot. Anh ấy đúng là một nhà ngoại giao!

Đi du lịch ở Angkor Thom và Angkor Wat rất thích vì môi trường sạch sẽ. Đi hết chỗ này đến chỗ khác tôi không thấy du khách vứt rác rưởi như ở Huế. Ở đây, chỗ nào cũng có thùng rác, và hình như du khách cũng rất ý thức. Với hàng chục ngàn người mỗi ngày mà người ta giữ gìn sạch sẽ chung quanh thì quả thật đáng khâm phục. Còn đi du lịch ở cung điện Huế, tôi chỉ biết … ngậm ngùi. Du khách vứt rác một cách vô tư. Ngay cả người Việt cũng làm như thế thì làm sao trách người nước ngoài. Có lần tôi đi Phú Quốc dự hội nghị, trên tàu toàn là những người có học (ít nhất cũng là bác sĩ), ai cũng than phiền sao dạo này biển Phú Quốc dơ quá. Nhưng ngay sau đó, chính người thốt lên câu than phiền đó lại vô tư vứt tàn thuốc lá xuống biển! Có thể đó chỉ là hành động vô thức, nhưng nó chứng minh rằng việc làm bẩn môi trường ở nước ta có khi đã trở thành … quán tính.

Một điều đáng nói nữa là ở đây (CPC) người ta tỏ ra tôn kính cung điện vua chúa. Thật ra, du khách tham quan Angkor Thom và Angkor Wat được yêu cầu phải ăn mặc đàng hoàng. Phụ nữ không được mặc váy trên đầu gối, nam không được mặc quần short trên đầu gối. Ông Sáu Cò ra qui định này để nói lên rằng muốn vào thăm những nơi linh thiêng thì phải tỏ ra tôn kính. Điều này làm tôi nhớ khi đi tham quan các lăng ở Huế, du khách Tây và Ta ăn mặc chẳng ra thể thống gì cả. Có người mặc rất casual mà cũng vào những nơi thờ phụng các vua. Tôi nghĩ vấn đề là chúng ta – người Việt – mà thôi. Nếu chúng ta không tỏ ra tôn kính các vị tiền nhân thì làm sao yêu cầu người khác tôn kính được? Ở cái khoản này, tôi nghĩ người Thái và Khmer hơn ta một bậc.

Đi Angkor Thom và Angkor Wat tôi thấy thoải mái vì không ai đến quấy rầy đòi … bán vé số. Ở Angkor Thom và Angkor Wat, không có những hàng quán mất trật tự bán chạp phô như ở các khu du lịch bên Việt Nam. Không có những người chèo kéo đòi bán chai nước lạnh, chẳng ai nài nỉ bán thịt nướng, v.v. Cũng chẳng có ai đến chào mời bán vé số. Phải nói rằng một trong những ác mộng của tôi khi đi tham quan các điểm du lịch của Việt Nam là đội quan bán vé số. Chỗ nào cũng gặp họ. Ngồi uống li cà phê cũng không yên với họ. Ăn sáng cũng bị làm phiền vì họ đến chào bán vé số. Đó là chưa nói đến tình trạng “chặt chém” du khách bằng những cái gía dịch vụ trên trời. Hãi hùng nhất là những điểm du lịch ngoài Bắc như Vịnh Hạ Long, Chùa Hương, Đồ Sơn, và khu đền thờ Nguyễn Trãi. Bị chặt chém nhiều đến nổi tôi không dám nghĩ đến tham quan những địa danh vừa kể. Nói ra thì có vẻ quá đáng, nhưng sự thật là mỗi lần nghe đến những địa danh đó là tôi sợ. Tất cả những nơi tôi đi qua ở Việt Nam, chỉ có Hội An và Phú Quốc là những nơi tôi nghĩ đến quay trở lại. Nay tôi có thêm một địa điểm để quay lại: đó là Siem Reap.

Tôi may mắn là gặp toàn những người Khmer hiền lành và dễ thương. Những người Khmer hàng xóm, tôi có thể gọi “thân thương” mà không cảm thấy sáo ngữ. Những lúc anh em tôi xa nhà, khi Ba Má tôi bệnh tật, chính những người hàng xóm Khmer cõng ra ngoài bệnh xá. Nay đến khi đi tham quan xứ chùa tháp, tôi cũng gặp toàn những người Khmer mà tôi chỉ có thể mô tả bằng những chữ hiền lành chất phác. Tôi biết họ còn nghèo lắm, cũng có những trẻ em ăn xin (ở Phnom Penh) nhưng họ toát lên một cái nghèo thật sự chứ không phải “đểu” như thỉnh thoảng thấy ở Sài Gòn.



Một hôm ở Phnom Penh tôi chứng kiến một cảnh hay hay mà bực mình. Hai vợ chồng một du khách Tây đang trả giá đi xe tuk tuk. Xe tuk tuk là một phương tiện giao thông rất tiện lợi ở Phnom Penh, có thể xem đó là loại taxi bình dân. Tôi đứng nghe họ nói tiếng Anh với anh tài xế xe. Anh tài xế đòi 10,000 riel (tức khoảng 2 USD), nhưng hai vợ chồng Tây trả giá 5000 riel. Họ nói với nhau lúc bằng tiếng Anh, lúc bằng tay, vì anh tài xế thì không rành tiếng Anh, còn hai vợ chồng Tây thì chẳng biết một chữ Khmer. Tôi thấy cảnh tượng quá vô lí, vì anh tài xế ốm nhom mà chở hai vợ chồng to tướng đó với cái giá chỉ 1 USD hay 2 USD thì sao mà xem được. Tôi nổi nóng trong người, nhưng chẳng biết phải làm gì giúp anh tài xế. Tôi bèn nghĩ ra cách nhân danh “thông dịch” cho anh tài xế, tôi nói một tràng tiếng Anh rằng hai đứa bây như thế mà trả giá một dịch vụ có 2 USD thì khó nghe quá, ở nước bọn mày thì chắc tốn 15-20 USD là chuyện bình thường; cái thằng tài xế đó nó nói là 1 đứa thì 5000 riel, còn 2 đứa là 10,000 riel, nó không chịu xuống giá đâu. Có lẽ tôi nói như thế nên hai vợ chồng đồng ý đi xe. Anh tài xế nhìn tôi với ánh mắt cám ơn, nhưng tôi quay đi không dám nhìn ánh mắt đó.

Trong chuyến đi Siem Reap tôi làm quen với một người Khmer dễ thương khác. Anh là người thợ chụp hình suốt quãng đường tôi đi tham quan ở Siem Reap. Thật ra, tôi hơi vô ý, không biết rằng anh đã theo xe của chúng tôi từ Srey Vieng đến Siem Reap, một đoạn đường cả trăm cây số. Người hướng dẫn cho tôi biết rằng nhiều thợ chụp ảnh ở Srey Vieng chỉ cần nhìn qua xe bus là biết xe du khách, và liền đuổi theo đến Siem Reap. Các thợ chụp ảnh không cạnh tranh nhau. Khi biết có người “xí chỗ” thì họ sẽ tìm khách hàng khác. Sáng hôm 1/1 tôi sắp lên xe đi Angkor Thom thì anh đến tự giới thiệu là thợ chụp ảnh. Giá mỗi ảnh là 15,000 đồng (anh ấy sẵn sàng tính bằng tiền Việt Nam). Anh ấy tỏ ra là người chụp ảnh chuyên nghiệp, cái máy Canon DSL thuộc loại khá “xịn”, anh thuộc lòng những chỗ cần chụp và vị trí tốt nhất. Mỗi lần đến nơi nào mà anh ấy thấy cần chụp là nói cho tôi biết ngay. Tất cả 24 người trong đoàn đều là khách hàng của anh, nhưng tôi có lẽ là khách hàng trung thành nhất. Trong hơn 200 tấm hình anh chụp cho đoàn chúng tôi, riêng phần của tôi đã gần 120 tấm. Đêm trước khi đi Phnom Penh tôi chẳng thấy anh đến giao ảnh và nhận tiền, tôi đâm lo. Tôi hỏi anh hướng dẫn làm sao tìm anh để trả tiền cho anh về nhà, anh hướng dẫn cười nói lo gì, anh ấy thuộc lòng những nơi du khách hay đến. Thật vậy, khi chúng tôi đang nhâm nhi li bia trong trung tâm Siem Reap gần 10 pm thì anh xuất hiện. Vẫn nụ cười dễ thương và vui vẻ, anh đưa ra một tập hình. Tất cả đều được sắp xếp thứ tự theo mặt khách hàng. Những tấm nào có nhiều người chụp chung thì anh rửa ra mỗi người một tấm. Ngoài số tiền chính thức, tôi cho anh thêm khoảng 500 ngàn đồng, và mời anh ngồi xuống uống một lon bia, nhưng anh từ chối không uống bia vì chút xíu nữa anh phải lái Honda về nhà. Nhìn anh ta đi khuất bóng với cáo áo sơ-mi lam lũ, tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống …

Việt Nam và CPC có một lịch sử giao bang tương đối sóng gió. Tôi nghĩ mặc dù ngoài mặt người Khmer ở CPC vẫn giữ thái độ thân thiện với du khách Việt, nhưng chắc gì họ thật sự thân thiện. Nếu họ bị/được trang bị bằng một loại giáo điều nào đó (như Mao-ít của Pol Pot) thì chắc họ cũng sẵn sàng chống lại người Việt chúng ta. Bằng chứng là họ đã từng tàn sát người Việt một cách dã man sau năm 1975. Ngay cả hiện nay, đảng phải của Sam Rainsy với chính sách thù hằn Việt Nam rõ ràng vẫn có thể thu hút nhiều đảng viên, và vẫn có khả năng tạo nên dư luận. Không ít người Khmer vẫn nghĩ rằng Việt Nam đã xâm lấn đất đai của họ, rằng từ Sài Gòn đến miền Tây Nam Việt Nam là đất của họ ngày xưa, rằng người Việt Nam rất xảo quyệt và ác ôn, v.v.

Tôi không biết Việt Nam có xâm lấn biên giới CPC sau 1975 hay không, nhưng nói rằng miền Tây Nam là đất của CPC ngày xưa thì cũng không sai. Nhưng đó là vấn đề của lịch sử 300 năm về trước. Câu chuyện không chỉ đơn giản là Việt Nam lấy đất đai của CPC. Tôi chỉ có thể tóm lược theo cách hiểu của tôi những diễn biến lịch sử như sau (tôi tóm lược từ bài viết rất chi tiết của tác giả Võ Thanh Liêm trên tạp chí Đi Tới):
  • Năm 1618, Chey Chetta II, lúc đó là con tin của Thái Lan, về CPC lên ngôi vua, và dời kinh đô về Oudong thuộc tỉnh Kompong Luong. Chey Chetta II không triều cống cho Thái Lan, nên vua Thái sai quân đi đánh phá CPC nhưng đều bị đuổi về. Chey Chetta tự lượng sức không đủ khả năng chống chọi lâu dài với Thái Lan, nên cầu viện Chúa Nguyễn của Việt Nam.
  • Năm 1620, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Khmer. Xin nói thêm rằng Chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn gả công chúa Ngọc Khoa cho vua Chăm, và Ngọc Hoa cho một người trong vương triều Nhật Bản. Sử Khmer còn ghi lại rằng đám cưới diễn ra – nói theo ngôn ngữ thời nay – là rất “đình đám”, có các sứ thần của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Nhật Bản, Tàu, v.v. tham dự. Ngọc Vạn được tiến phong Hoàng hậu với tước danh là Dach Prea Peaccac Vodey Prea Voreac Khsattey.
  • Sau đó, người Việt bắt đầu ồ ạt sang CPC định cư, có lẽ dưới sự bảo trở của Hoàng hậu Ngọc Vạn. Sách sử cho biết đến năm 1623 (tức chỉ 3 năm sau đám cưới) đã có 20,000 người Việt đến Thuỷ Chân Lạp định cư! Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đi thêm một bước, viết thư cho rể, mượn đất Prey Nokor (tức Sài Gòn ngày nay) để … thu thuế người Việt đang làm việc ở CPC. Ông rể chấp nhận. Năm năm sau, tất cả vùng ngày nay là Bà Rịa, Biên Hòa, Sài Gòn, Bến Nghé chịu sự kiểm soát của Chúa Nguyễn.
  • Năm năm sau (1625), vua Chey Chetta qua đời. Các hoàng tử Ponhea To đến Ponhea Nu lần lượt lên ngôi. Sau cái chết đáng ngờ của Ponhea Nu năm 1640, hoàng thân Prah Outey đưa con ông lên là Ang Non I lên làm vua. Năm 1642, một hoàng tử là con của Chey Chetta II liên kết với Mã Lai nổi dậy tiêu diệt hoàng phúc Prah Outey, rồi lên ngôi lấy hiệu là Pn=onhea Chan I. Phe của hoàng thân Ang Non I cầu cứu Hoàng thái hậu Ngọc Vạn, và Hoàng thái hậu cầu cứu Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần.
  • Năm 1658, Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần cho quân sang chinh phạt Chân Lạp. Quân của Chúa Nguyễn tiến vào Nam Vang và bắt sống Ponhea Chan I, giải về Quảng Bình, và ông qua đời ở đây. Hiền Vương bèn đưa con của Ngọc Vạn lên làm vua lấy hiệu là Batom Reachea. Vua Batom Reachea dâng đất (dưới danh nghĩa hợp thức hoá) cho Việt Nam vùng đất Đồng Nai.
  • Năm 1672, Batom Reachea qua đời. Con trai ông là Ang Chey lên ngôi. Ang Chey liên kết với Thái Lan để lấy lại Đồng Nai. Chúa Nguyễn nổi giận sai tướng Nguyễn Dương Lâm, Nguyễn Diên Thái, và Văn Sùng đem quân “hỏi tội” và truất phế Ang Chey, rồi sau đó đưa Ang Saur (em trai của Ang Chey) lên ngôi lấy hiệu là Chey Chetta IV. Lần này, chắc có kinh nghiệm hơn, nên Chúa Nguyễn bổ nhiệm Ang Non (con trai thứ của Hoàng thái hậu Ngọc Vạn) cai quản vùng Đồng Nai – Sài Gòn. Đến năm 1691 thì toàn bộ vùng đất này thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam.
  • Sau vài năm tranh chấp giữa Việt Nam và CPC, năm 1698 Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh đi đánh CPC và kinh lược mấy tỉnh miền nam. Nguyễn Hữu Cảnh áp dụng chế độ hành chính để kiểm soát nhân khẩu, đất đai những tỉnh mà chúng ta biết đến như là miền Tây ngày nay. Dân số miền Nam lúc đó chỉ 40,000 gia đình, tức cao lắm là nửa triệu người. Như vậy, chỉ trong vòng 70 năm mà biên giới Việt Nam bành trướng được Lúc đó toàn miền nam có dân số 40,000 gia đình (hộ) đất đai mở ra 1600 km.
Lược sử trên không phải để biện minh gì cả, mà chỉ để nói lên rằng không có chuyện Việt Nam tự nhiên đem quân xâm lấn CPC. Tôi nghĩ có thể nói công bằng là các vua Khmer cầu viện Việt Nam để trước là chống Thái Lan và sau là bảo vệ triều đình Khmer, và để trả nghĩa họ dâng hiến đất cho Chúa Nguyễn. Một cách diễn giải khác là Chúa Nguyễn đã dùng mưu mĩ nhân để chiếm/lấn đất CPC. Nhưng dù là động cơ gì hay mưu mô nào thì những diễn biến trên cho thấy Việt Nam và CPC có một mối giao tình 300 năm trước. Ngày nay, chắc chắn một bộ phận người Việt và người Khmer có cùng gen. Nhìn như thế thì quả thật có thể nói Việt Nam và CPC không chỉ là “bạn” mà còn là “bà con”.

Nhưng điều đáng lo nhất là Việt Nam đã và đang đánh mất CPC. Như tôi có nói trong một bài trước, dấu ấn của người Tàu ở CPC rất rõ. Ngay cả trong sân khấu tạp kỉ mà tiếng Hoa còn xuất hiện trước tiếng Anh. Đường phố Phnom Pench thì chữ Hoa cũng khá nhiều. Tàu đã mua vài ngọn núi giáp biên giới Tây Nguyên của Việt Nam. Có lẽ chính vì lí do đó mà họ phải xâm nhập vào Tây Nguyên cho bằng được (qua dự án bauxite) để “nối kết” với những rặng núi và khu đất của CPC mà họ đã mua. Mấy năm gần đây, CPC cũng tỏ ra chào đón Tàu và có khi đi ngược lại quyền lợi của Việt Nam. Có lẽ Việt Nam đang mất người bạn thân thiết và truyền thống này.

***

Tôi đã có những ngày đẹp nhất trong chuyến nghỉ hè cuối năm 2012 và đầu năm 2013 ở xứ chùa tháp. Chuyến đi đã để lại trong tôi những kỉ niệm đẹp về văn minh, văn hoá, và con người Khmer. Phải tận mặt nhìn và chiêm nghiệm những đền đài, cung điện trong Angkor Wat – Angkor Thom để nhận ra rằng người Khmer đã có một nền văn minh rực rỡ, chẳng kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Những công trình kiến trúc Angkor đã đặt văn minh Khmer ngang hàng hoặc cao hơn một bậc so với nền văn minh Hi Lạp và La Mã cùng thời. Nhưng tất cả những điểm sáng đó là thuộc về quá khứ. Trong lịch sử cận đại, Khmer là một dân tộc bất hạnh, với chiến tranh triền miên và nhất là trận diệt chủng chỉ mới xảy ra cách đây chưa đầy 30 năm. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy CPC là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Ngày nay, Campuchea có những điểm rất giống Việt Nam: xã hội còn rất nhiều bất công, tham nhũng tràn lan, quan chức lộng quyền.

Nhưng Campuchea là một đất nước đang trỗi dậy. Những chương sử đen tối như “Cánh đồng chết” của Pol Pot và chiến tranh Quốc – Cộng đã khép lại. Có một điểm khác với Việt Nam: Campuchea dân chủ hơn. Chế độ đa nguyên đa đảng của Campuchea chưa phải là chế độ tốt nhất, nhưng chắc chắn tốt hơn chế độ độc đảng trước đây. Người Khmer không còn bị ám ảnh với loại chủ nghĩa cộng sản của Pol Pot hay Mao-ít. Tuy nghèo, nhưng Campuchea có một tương lai bền vững hơn Việt Nam, vì hệ thống chính trị đa nguyên đa đảng của họ bắt đầu ổn định, và nước ngoài bắt đầu đổ vào đầu tư. Tôi cũng hi vọng cho Campuchea phát triển nay mai để người dân thoát khỏi cảnh nghèo khó như hiện nay.

Loạt bài bút kí CPC đến đây là hết.

N.V.T

Ghi chép trên xứ chùa tháp 6: Phnom Penh – chút gì để nhớ

http://media-cdn.tripadvisor.com/media/photo-s/01/6f/fc/d4/phnom-penh.jpgSau hai ngày rong ruổi ở Siem Reap, chúng tôi đi Phnom Penh. Đây cũng là một trong những điểm đến mà tôi đã có dự tính rất lâu. Do đó, chuyến đi Phnom Penh cũng là một hành trình hào hứng. Chỉ hai ngày ở Phnom Penh không đủ để tôi chiêm nghiệm, nhưng tôi vẫn viết ra đây những cảm nhận ban đầu (cứ tạm gọi là … pilot perception). Đến đây và nghe qua truyền thuyết về thành phố Phnom Penh tôi mới biết hai chữ “Nam Vang” mà mình dùng bấy lâu nay để chỉ thủ đô của CPC là chẳng có một căn cứ nào cả!



Phnom Penh cách Siem Reap khoảng 250 km, nhưng phải tốn đến 4-5 giờ đường xe. Tuy nhiên, chẳng ai than phiền, bởi đây là chuyến đi tham quan, xe chạy càng chậm thì càng có dịp để trải nghiệm và xem xét sinh hoạt của người Khmer. Từ Siem Reap đi Phnom Penh phải qua tỉnh Kompong Cham. Như giải thích ở phần trên, Kompong là bến, Cham ở đây có lẽ đề cập đến Chiêm Thành (Chăm). Do đó, tên tỉnh này có lẽ hiểu là Bến người Chăm. Ngày xưa, Chăm thường hay tấn công vơi ý đồ chiếm đóng vương quốc Khmer, nhưng phần lớn đều không thành công vì người Khmer phản công dữ dội. Do đó, tôi nghĩ địa danh Kampong Cham chắc có một xuất sứ từ những “giao tiếp” lịch sử đó (cũng như Siem Reap vậy). Nhưng ở đây, người Khmer đặt tên liên quan đến người Chăm một cách dễ nghe hơn và không đụng chạm như Siem Reap.

Món ăn côn trùng 

Trên đường đi, xe dừng hai nơi. Nơi đầu tiên là một thị xã (tôi không nhớ thuộc tỉnh nào), nhưng nhìn qua thì thấy không thịnh vượng mấy. Chúng tôi có một bữa ăn trưa ở thị xã đó trong một nhà hàng – khách sạn. Món ăn không có gì đặc biệt, dù người hướng dẫn nói rằng nhà hàng này thuộc vào loại bậc nhất ở đây. Điểm tạm dừng chân thứ hai là một cụm quán ven đường hình như thuộc tỉnh Kompong Cham. Tôi chỉ nhớ nơi đó có bán nước uống, bánh mì, trứng gà với 80% là lòng đỏ, và vài thức ăn khác. Có một món ăn mà cho đến nay tôi vẫn chưa dám thử qua: đó là món côn trùng chiên. Côn trùng ở đây là dán, dế, cào cào, và hình như có cả nhền nhện. Nhìn qua những côn trùng này được chiên dòn rụm tôi cũng thấy thèm, nhưng vì nhớ đến mấy cái tên dế, dán, cào cào, v.v. tôi không dám thử. Tuy nhiên, nhiều người trong đoàn đều mua và ăn qua, ai cũng khen ngon. Người không khen ngon, nhưng vẫn nói lịch sự rằng “hương vị khác một cách đặc biệt”.

http://4.bp.blogspot.com/-CZjYVLtQjyQ/TpJujyx-cwI/AAAAAAAACsI/nUOMWSZ9QAA/s1600/IMG_4353.jpg
Món côn trùng chiên bơ rất ấn tượng. Nhiều du khách đến đây đều thử qua và khen ngon, nhưng tôi chưa dám thử.

Chuyện ăn côn trùng làm tôi nhớ đến một kỉ niệm cách đây trên dưới 10 năm. Thuở đó, một anh bác sĩ Thái Lan sang lab tôi làm postdoc (nay anh là giáo sư y khoa). Trong một seminar, anh trình bày mối liên quan giữa calcium và xương. Vì tôi là sếp, nên anh phải đưa cho tôi duyệt qua các slides trước khi trình bày. Nếu anh ấy nói suôn sẻ, tôi thơm lây; nếu anh ấy nói không tốt thì tôi cũng là người chịu trách nhiệm một phần. Do đó, tất cả slides của nghiên cứu sinh và postdoc, tôi đòi phải duyệt qua. Đó là văn hoá lab tôi. Khi tôi xem qua hơn 30 slides, thì tôi hãi hùng nhận ra 3,4 slides có hình côn trùng được chiên. Tôi kín đáo gọi anh vào office và hỏi mấy slides này anh muốn nói gì, anh ấy vui vẻ nói đó là một món ăn độc đáo và truyền thống ở quê anh (miền Tây Bắc Thái Lan, giáp Lào). Anh ấy tin rằng đó là những món ăn giàu chất calcium, và đó là lí do giải thích tại sao vùng đó ít có người bị gãy xương! Thú thật, tôi không thấy thuyết phục bởi cách lí giải đó, nhưng cũng lịch sự lắng nghe. Tôi hỏi anh có bằng chứng nào để củng cố cho giả thuyết của anh không, anh cười nói làm gì có, chỉ là giả thuyết thôi mà. Tôi cho anh biết rằng nếu những slides với côn trùng này được trình chiếu thì sẽ gây khó chịu cho người phương Tây. Tôi nói thân mật rằng giữa tao và mày, chúng ta hiểu nhau, tao biết rằng đúng là dân vùng quê mày và quê tao nữa hay ăn mấy món côn trùng này, nhưng tao không muốn để cho một diễn đàn khoa học phương Tây nhìn chúng ta như là những người không biết ăn uống. Tôi không dám và không muốn dùng chữ kém văn minh. Anh ta là người rất thông minh, nên hiểu ngay tôi muốn nói gì. Thế là bỏ ra mấy slides côn trùng đó. Sau này, chúng tôi gặp nhau thường xuyên và hay nhắc lại kỉ niệm đó.

Ăn côn trùng có một lịch sử lâu đời. Không phải chỉ có người Đông Nam Á (như Khmer, Thái Lan, Việt Nam, Lào, v.v.) mới có thói quen ăn côn trùng. Hoàng đế Nhật là Hirohito thích ăn cơm với ong bắp cày. Đuông dừa cũng là món khoái khẩu của bà Hoàng thái hậu Từ Dũ và Hoàng hậu Nam Phương. Ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu tổng thống VNCH, cũng thích ăn con đuông dừa. Chẳng riêng gì VN hay Nhật, các nước Phi châu, và ngày xưa ở Âu châu, Nam Mĩ, người ta cũng ăn côn trùng. Ở Anh có vài nhà hàng chuyên bán những món ăn chế biến từ côn trùng. Một cách khách quan, ăn côn trùng cũng có vài lợi ích về sinh học và kinh tế. Một nghiên cứu gần đây phát hiện rằng trẻ em thuộc bộ lạc Burkina Faso (châu Phi) ăn mối, có những vi khuẩn trong ruột giúp tiêu hóa chất sợi thực vật và chống lại tiêu chảy, bệnh viêm đường ruột như Crohn. Ngược lại, trẻ em Ý ăn thức ăn giàu đạm động vật, đường, chất béo, có ít vi khuẩn trong ruột, dễ bị tiêu chảy và viêm ruột. Đây là một công trình nghiên cứu khá lạ lùng nhưng kỳ thú, vì nó cho thấy ăn côn trùng có thể giúp chống lại một số bệnh phổ biến như tiêu chảy ở các nước nghèo. Đại học Wageningen ở Hà Lan đang nghiên cứu việc chiết, tinh chế và sử dụng protein của côn trùng như một nguồn thực phẩm cho con người. Do đó, ở Hà Lan có hẳn một nông trại chuyên nuôi côn trùng để chế biến thành thực phẩm cho công chúng.

Thành phố Phnom Penh

Đoàn chúng tôi đến Phnom Penh vào buổi chiều. Lúc đó đã gần 4 pm, nhưng thời tiết vẫn còn oi bức. Nhìn chung, hai bên đường tương đối sạch sẽ, không có quán xá đầy đường như bên Việt Nam. Cũng không có những toà nhà cao như ở Sài Gòn. Nhà cửa của dân trông thoáng và có phần rộng hơn so với nhà cửa ở các thành phố bên Việt Nam. Xe chúng tôi đi thoải mái, không có tình trạng kẹt xe như ở Sài Gòn. Cũng chẳng thấy bóng dáng cảnh sát ở đâu. Mãi khi gần đến khách sạn mới thấy một anh chàng cảnh sát đi tuần tra, có lẽ vì đó là nơi du lịch có nhiều du khách ngoại quốc, nên lâu lâu xuất hiện một anh chàng cảnh sát. Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đến đây là một thành phố thanh bình.

Sự thanh bình đó chỉ có sau một cơn ác mộng có tên là Pol Pot. Trước năm 1975, Phnom Penh có khoảng 1.8 triệu dân. Sau cuộc diệt chủng của chế độ cộng sản Mao-ít Pol Pot thì số dân cư xuống chỉ còn vài ngàn. Ngoại trừ các quan chức của chế độ và quan chức của toà đại sứ Tàu không có thường dân nào sống ở đây. Bốn năm dưới tay Pol Pot, Phnom Penh là một thành phố chết: không có buôn bán, không có đèn điện, không có trường học, chẳng có sinh hoạt văn hoá. Giờ này nhắc lại tôi vẫn không tưởng tượng nổi làm sao và cách nào mà bọn Trung Cộng đã nhào nặn ra một tên giết người chẳng những bệnh hoạn mà còn quái gở như thế. Chắc là các quan thầy Trung Cộng cũng không ngờ được họ đã đẻ ra một quái vật như Pol Pot. Mà, nói gì Campuchea, ngay cả ở Tàu, bọn Mao-ít cũng là những tên đao phủ dã man. Trong thời gian ngự trị, bọn này đã giết chết ít nhất 47 triệu người. Chỉ riêng cái gọi là “Cách mạng Văn hóa”, Mao đã giết chết 45 triệu người (đó là con số chính thức của Đảng Cộng sản China)! Ngày nay, chúng vẫn còn đầu độc cho một vài thế hệ Tàu cộng để đi xâm lấn hải đảo và lãnh thổ của các nước lân bang. Phải nói rằng cái chế độ cộng sản Mao-ít là một tội ác của nhân loại.

Cả thành phố hình như đang trong cơn sốt xây dựng, nên đi đâu cũng thấy những công trình xây dựng. Trong đó có một công trình rất lớn mà chủ đầu tư là một người Việt Nam (ông Sáu Cò, cũng là chủ hệ thống phân phối xăng dầu Sokimex và quản lí du lịch Angkor). Có một toà nhà đang xây dở dang, nghe nói chủ đầu tư là người Hàn Quốc, nhưng xây chưa xong thì ông bị thua bài quá nặng, nên bỏ luôn. Công trình này bây giờ có chủ đầu tư mới là phu nhân của đương kim thủ tướng Hun Sen. Cũng như bên Việt Nam, phần lớn các đại gia ở đây đều là thân nhân của các quan chức cấp cao, hay chính quan chức, hay có liên hệ mật thiết với các quan chức. Thực tế này dẫn đến một sự bất bình đẳng khủng khiếp giữa người nghèo và người giàu. Người nghèo đến nổi không đủ ăn, còn người giàu thì có thể đốt tiền cả ngày không hết.

Người hướng dẫn cho biết Phnom Penh ngày xưa được mệnh danh là Hòn ngọc châu Á. Sự ví von này làm tôi nhớ đến Hòn ngọc viễn Đông của Sài Gòn. Chẳng biết ai là người sáng chế ra những ví von như thế này. Nhưng thú thật, tôi không thấy nó (cả Sài Gòn và Phnom Penh) xứng đáng với danh xưng như thế. Có lẽ do chính người Pháp “nặn” ra những ví von như thế để tạo nên một sự từ hào dỏm cho người bản xứ.

Cũng như nhiều thủ đô cổ khác trên thế giới, Phnom Penh có một lịch sử hay huyền sử thú vị. Truyền thuyết kể rằng năm 1372 trước Công nguyên, có một goá phụ giàu có tên là Daun Penh sống gần bờ sông nơi 3 con sông Mekong, Tonle Sap, và Tonle Bassac hợp lưu. Năm đó có một trận lũ lụt lớn, bà Penh chú ý đến một khúc cây nhũ hương trôi dạt vào bờ sông. Ngay lập tức, bà Penh huy động hàng xóm kéo khúc cây lên bờ. Khi bà Penh rửa bùn từ khúc cây, bà thấy một tượng Phật bằng đồng hiện ra và một tượng thần trong lỗ của thân cây. Bà Penh và những người hàng xóm rất vui khi thấy những linh vật đó, và đem về nhà bà cất giữ. Sau đó, bà cho xây một cái chòi nhỏ để thờ các linh vật mới phát hiện.

Sau này, bà nhờ dân làng góp công đấp một cái đồi ngay bên nhà của bà. Thân cây nhã hương được cắt ra và làm cột để xây một ngôi chùa ngay trên đồi. Bốn bức tượng Phật được thỉnh vào chùa, còn tượng thần thì được giữ ở một ngôi điện phía đông của đồi, vì bà nghĩ rằng đó là bức tượng có gốc từ Lào. Khi ngôi chùa được hoàn tất, bà cho mời các sư sãi trụ trì. Từ đó, ngôi chùa có tên là chùa bà Daun Penh (Wat Phnom Daun Penh). Người hướng dẫn đoàn cho xe chạy ngang ngôi chùa này để như là một minh chứng rằng truyền thuyết có thật. Sau này, người ta quen gọi tắt là Phnom Penh. Như vậy địa danh này chẳng có liên quan gì đến hai chữ Nam Vang mà tôi từng biết ngày xưa. Có lẽ chúng ta nên trả lại cái tên thật cho người ta, và ngừng cách gọi Nam Vang.
Phnom Penh được xây vào thế kỉ 15, trong thời đại vua Preah Srey Soryopor, sau khi ông rời bỏ Hoàng cung Angkor ở Siem Reap và xây một kinh đô khác ở Srey Santhor (nay thuộc tỉnh Kompong Cham). Vua Preah Srey Soryopor chỉ ở Srey Santhor đúng một năm thì lại dời đô vì lũ lụt. Sau đó, ông chọn khu đất bên cạnh sông Tonle Chaktomuk (còn gọi là sông 4 mặt). Nói 4 mặt là vì đó là nơi giao lưu giữa sông Mekong từ thượng nguồn chảy đến đây thì chia làm 2 nhánh (sông Bassec chảy vào Việt Nam thành sông Tiền và sông Hậu), và một nhánh chảy ra Biển Hồ. Nhưng sự giao lưu làm thành 4 mặt sông, nên người ta quan gọi là four faced river.

Tuy là thủ đô lâu đời, nhưng Phnom Penh không có nhiều danh lam thắng cảnh, có lẽ do chiến tranh đã tiêu hủy trong quá khứ. Theo người hướng dẫn đoàn, Phnom Penh có 2 điểm tham quan chính là cung điện hoàng gia và Chùa Vàng Chùa Bạc. Chúng tôi mua vé vào thăm cả hai địa danh. Giá vé là 25,000 riel. Chùa Vàng Chùa Bạc, hay nói đúng hơn là Chùa Bạc, và tên chính thức theo tiếng Khmer là Wat Preah Morakat. Cũng như bao nhiêu ngôi chùa khác, Chùa Bạc có kiến trúc rất đặc thù Khmer. Mái chùa rất dốc. Mái chùa uốn cao và cong vút. Tất cả góc cạnh đều được chạm trở tinh vi. Phía trong chính điện lúc nào cũng nằm theo hướng Đông-Tây, rất cao, và thoáng mát. Chung quanh chánh điện là bốn dãy hành lang rộng với hàng cột dày đặc. Mỗi đầu cột đều có gắn tượng người chim (một nửa thân là chim, nửa là người) hoặc là tiên nữ Apsara trong tư thế đứng dang hai tay đỡ mái. Các ngôi chùa Khmer ở Việt Nam cũng có kiến trúc y như thế này.

http://phuongnamstar.net/wp-content/uploads/2011/03/silver_pagoda2.jpg
Phía trước của Chùa vàng bạc

Trong khuôn viên chùa, có một số tháp. Phần lớn những tháp này mới xây, với vật liệu nhập trực tiếp từ Pháp. Nghe nói những vật liệu này rất tốt vì không phai màu theo thời gian (nghe khó tin!)

http://phuongnamstar.net/wp-content/uploads/2011/03/silver_pagoda.jpg
Những tháp trong Chùa vàng bạc được xây bằng vật liệu nhập từ Pháp. Nhưng đá này không phai màu theo thời gian, cho dù với thời tiết khắc nghiệtvùng nhiệt đới

Chùa Bạc là ngôi chùa nổi tiếng nhất của CPC, có lẽ vì nó gắn liền với hoàng gia. Chùa được xây dựng bằng 5329 miếng bạc (phần lớn là lót nền); mỗi miếng bạc hình vuông với mỗi chiều có kích thước khoảng 15-20 cm, và trọng lượng khoảng 1,125 gram.   Tất cả đều làm thủ công! Chùa là nơi lưu giữ của hơn 1600 báu vật; trong đó, có tượng Phật ngồi nghe nói làm bằng ngọc, nên được xem là “ngọc bảo”. Ngoài ra, còn một tượng Phật khác bên cạnh được đúc bằng 90 kh vàng và 2086 viên kim cương. Với những báu vật như thế, không ngạc nhiên khi biết ngôi chùa thu hút hàng triệu khách đến viếng thăm mỗi năm.

Thanh kiếm và trách nhiệm 

Sau khi tham quan Chùa Bạc, chúng tôi tạt qua khu vực hoàng cung, cũng gần đó. Địa danh chính thức của hoàng cung theo tiếng Khmer là Preah Barom Reachea Vaeng Chaktomuk. Đây là nơi ở và làm việc của vua. Hôm nào vua có mặt thì sẽ có cờ màu xanh. Hoàng cung được xây từ năm 1866, tọa lạc tại một khu đất phía Tây của ngã tư sông Mekong và Chaktomuk. Người thiết kế công trình là kiến trúc sư Neak Okha Tepninith. Nghe nói công trình này được sự tài trợ của Pháp, nhưng tôi không chắc.

Bên cạnh Quảng trường Độc Lập là một toà nhà mái ngói màu xanh, cây lá xum xuê, trông rất đẹp. Hỏi ra mới biết đó là dinh thự của đương kim thủ tướng (Hun Sen). Người hướng dẫn cho biết đây chỉ là một biệt thự của ông thủ tướng mà thôi, chứ ông và gia đình ông có rất nhiều nhà trên khắp CPC. Ở CPC, chắc cũng giống như Việt Nam, các quan chức to nhỏ khi có cơ hội và điều kiện đều đua nhau xây nhà hoành tráng. Có nhiều nhà các quan chỉ hô một tiếng là đã có các đại gia sẵn sàng cống hiến vật liệu để làm, chứ họ chẳng cần tốn tiền gì cả. Nghe chuyện này tôi tự hỏi không biết các quan chức CPC bắt chước các quan chức VN, hay ngược lại. Có lẽ ai bắt chước ai cũng chẳng có gì không quan trọng; quan trọng là cái “mô hình” tham nhũng này xem ra ngày càng phổ biến và tạo nên một khoảng cách rất lớn giữa người nghèo và người giàu trong xã hội VN và CPC.

Hôm đó, chúng tôi không may mắn, vì không được vào tham quan hoàng cung. Lí do là nhà vua Shihanouk mới băng hà, nên người ta không cho vào sâu, chúng tôi chỉ đi vòng ngoài và … nhìn vào. Hoàng cung được khá rộng, có nhiều cây xanh, có nhiều chậu kiểng lớn. Kiến trúc hoàng cung khác với kiến trúc chùa chiềng, nhưng cũng đậm bản sắc Khmer. So với cung điện ở Huế, cung điện nhà vua CPC có qui mô nhỏ hơn, nhưng được xây dựng cầu kì hơn và tinh tế hơn.
Ngay cả kiến trúc hoàng cung cũng có một ý nghĩa về quyền lực. Người hướng dẫn giải thích ý nghĩa của kiến trúc cho tôi hiểu rằng phía dưới mái nhà là một thanh gỗ dài có chạm trổ tinh vi tượng trưng cho thanh kiếm. Thanh kiếm tượng trưng cho quyền lực. Nhưng thanh kiếm được gát ngang, nhắc nhở rằng quyền lực phải được sự dụng một cách có trách nhiệm. Nghe qua, tôi phải khen kiến trúc sư: hay!

Quyền lực phải được sử dụng một cách có trách nhiệm. Trên thế giới này có mấy ai biết sử dụng quyền lực có trách nhiệm? Người ta khi có quyền lực trong tay thì trở nên những kẻ say – say quyền lực. Từ say đến lạm dụng là một ranh giới rất mong manh. Tôi chợt nghĩ lan man, và ước gì một kiến trúc và biểu tượng như thế này có mặt ở Hà Nội.

Trở về sông nước 

Không tham quan được hoàng cung, chúng tôi đi thăm Quảng trường “Độc Lập”. Quảng trường nằm phía trước hoàng cung, và đối diện với 4 mặt sông. Quảng trường rất sạch, đẹp, và thoáng. Rất nhiều chim bồ câu lượn qua lại và thỉnh thoảng xà xuống để đón những thức ăn do du khách tặng cho. Vì hôm đó nhà vua mới qua đời, nên có rất nhiều người Khmer và du khách đến viếng, dâng hương hoa. Ban tổ chức đám tang phải xây tạm một điện thờ ngay tại Quảng trường để người dân có thể đến đó thấp nhang. Hai người bạn Khmer trong nhóm tôi cũng đến đó thấp nhang tỏ lòng tôn kính với nhà vua.

Bên cạnh hoàng cung, người ta đang xây đài hoả táng và sắp hoàn tất. Đài hoả táng khá cao, và được xây theo motif chúng ta hay thấy trong chùa Khmer. Vua Shihanouk có chối lại rằng ông muốn tro của ông sau khi hỏa táng rải xuống sông. Tôi được biết ngày 5/2/2013 thi hài nhà vua đã được hỏa táng, và người ta đã làm theo ý nguyện của ông.

Cảnh hoả táng Vua Shihanouk ngày 5/2/2013

Tôi thấy hình như rất nhiều người nổi tiếng muốn được hỏa táng và rải tro xuống sông. Chẳng hiểu vì lí do gì mà người ta muốn như thế. Có lẽ từ trong tiềm thức, chúng ta là những sinh vật hình thành từ sông nước (hàng tỉ năm trước), nên khi chết chúng ta cũng muốn quay về với nước. Tro trên nước cũng có nghĩa là tự do, bồng bềnh, có thể “chu du” bất cứ nơi nào trên thế giới. Chả thế mà thi sĩ Du Tử Lê từng viết những câu thơ làm tôi xúc động:

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà.

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì.

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi.

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo.

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối.

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma).
Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

Du Tử Lê viết bài này vào năm 1977. Thời đó có rất nhiều người tị nạn bị chết trên biển (trong số đó có anh Hai tôi). Nên mỗi lần đọc bài này tôi đều có cảm xúc mạnh.

Tôi lại nghĩ lan man chuyện bên ta. Ông Shihanouk muốn được rải tro xuống sông, và ông đã toại nguyện. Trong khi đó cụ Hồ bên Việt Nam thì không được toại nguyện. Trong di chúc của cụ Hồ, ông có chối lại rằng ông muốn được hoả táng, và tro thì cho vào ba hộp cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Thế nhưng như chúng ta biết người ta để ông cụ nằm mãi trong lăng lạnh lẽo, âm u, rồi bơm hoá chất; hàng ngày kéo lên kéo xuống để thiên hạ nhìn mặt. Thật là khổ cho ông cụ. Thật là không phải đạo chút nào. Nhìn như vậy để thấy Vua Shihanouk còn hạnh phúc hơn ông cụ Hồ.

Đi Chợ Vòm 

Hôm sau, chúng tôi đi Chợ Vòm. Người hướng dẫn nói rằng đã đi CPC thì cũng nên tiêu ra vài giờ để mua vài món hàng, trước là làm kỉ niệm, sau là giúp các bạn CPC. Tôi nghĩ quá đúng. Thế là cả đoàn kéo nhau ra Chợ Vòm. Cái tên này có lẽ xuất phát từ kiến trúc, chứ tên chính thức của chợ là Phsar Thom Thmei. Nhưng vì người mình ai cũng đề cập đến Chợ Vòm, nên thôi thì chúng ta theo đám đông vậy. Chợ được xây vào năm 1937, theo mô hình một cái vòm lớn ở trung tâm. Chung quanh là bốn “cánh” chợ, bán đủ thứ đồ nữ trang, quần áo, đồ gia dụng và thực phẩm. Cũng như ở những chợ khác, ở đây cũng phải thương lượng giá cả. Theo “luật” bất thành văn, những hàng hóa như quần áo, nữ trang, đồ lưu niệm, v.v. thì phải giảm 50% để tránh bị lừa hay mua quá giá. Nói thế thôi, chứ tôi thấy đồ ở đây rẻ hơn bên Việt Nam nhiều. Đối với người nước ngoài thì giá cả ở đây càng rẻ hơn.

http://vn.nagaworld.com/application/uploads/assets/cache/89_594_330_90.jpg
Một góc Chợ Vòm ở Phnom Penh

Chợ Vòm được tổ chức giống giống với Chợ Bến Thành, tức có phân khu hàng hoá đàng hoàng. Tuy nhiên, hình như Chợ Vòm sạch sẽ hơn và thông thoáng hơn Chợ Bến Thành một chút. Thú thật, ai thích đi chợ thì không biết, chứ tôi không thích đi chợ Việt Nam (kể cả cái Chợ Vòm này). Cái không khí hỗn độn, cái không gian nhầy nhụa, cái mùi “đặc trưng” lan toả trong chợ làm tôi thấy khó chịu. Ở đây, cũng như bên Việt Nam, hàng ăn mặc cũng phần lớn là đồ nhái, đồ xuất phát từ Tàu. Nhưng thỉnh thoảng cũng thấy đồ nhái từ Việt Nam (ấy là tôi nghe người bán nói, chứ tôi không phân biệt được). Họ nhái từ các hiệu nổi tiếng như Lacoste, Polo, Tommy Hilfiger, Claiborne, Nautica, Dockers, Levi, v.v. nhưng dĩ nhiên là chất lượng rất kém. Tất cả đều may một kiểu, nhưng nhãn mác thì khác nhau. Nhìn cái áo polo và xem cái cổ áo là biết ngay cách nhái không đúng kiểu. Thật vậy, cách làm hàng nhái cũng rất thô. Chẳng hạn như chỉ cần nhìn qua cách thêu con ngựa không đúng kích thước và thiếu tính sắc sảo. Mà, cần gì phải nhái cho tốt, khi giá bán chỉ 2 USD (so với hàng thật giá cả 50 USD). Dù biết là hàng nhái, nhưng nhiều người vẫn vui vẻ chi tiền mua!

Không biết có quá chăng nếu nói Việt Nam chắc là thiên đường của hàng nhái. Đi đâu, từ thành thị đến thôn quê, tôi thấy “phe ta” mặc toàn đồ hiệu xịn. Quần Dockers, áo Lacoste, kiếng Police, đồng hồ Rolex, ngồi Honda phóng như bay. Mấy hãng sản xuất các hàng này chắc rất ngạc nhiên vì họ được quảng cáo … miễn phí. Điều ngạc nhiên với tôi là nhiều người tỏ ra sành điệu nhưng vẫn không biết mình mặc đồ nhái!

Vào Chợ Vòm, tôi đã gặp ngay người Việt. Chị là chủ quầy hàng bán khô ở đây. Chị bán đủ thứ khô, nào là khô cá sặc (món tôi thích), khô cá lóc, khô cá dứa, và có cả khô rắn! Hỏi chuyện một hồi mới biết chị thuộc vào thế hệ thứ hai, sinh ra và lớn lên ở CPC, nhưng vẫn nói tiếng Việt rất tốt. Chị cho biết phần lớn những chủ hàng trong Chợ Vòm, dù không phải là người Việt, nhưng vẫn có thể nói vài ba chữ Việt để buôn bán. Nói cho ngay, đi xa mà gặp đồng hương tôi vẫn cảm thấy có cái gì ấm lòng.

Thật ra, xác suất ra đường Phnom Penh gặp người Việt rất cao, bởi vì ngay tại thủ đô này, cứ 5 người dân thì có 1 người Việt. Đó là con số mà anh hướng dẫn đoàn cho biết. Dĩ nhiên, là hai nước láng giềng, nên sự có mặt của người Việt ở CPC không có gì đáng ngạc nhiên. Ngay từ thế kỉ 17, công nương Ngọc Vạn của ta đã được vua Khmer cưới làm dâu (và sau này thành hoàng hậu, hoàng thái hậu), và theo bà là cả ngàn người Việt đến định cư. Vào thập niên 1950, có ước tính cho rằng dân số Việt ở CPC là khoảng 300 ngàn người, chiếm 7% dân số CPC. Con số đó cho đầu thế kỉ 21 là bao nhiêu thì tôi không rõ, nhưng chắc phải hơn 7%, nhất là từ khi sau khi chiến tranh kết thúc (1975) nhiều người Việt chạy sang đây tị nạn. Cũng như phần lớn người di cư khác, người Việt thích sống ở thành phố. Do đó, chỉ riêng tại thành phố Phnom Penh đã có 20% dân số là người Việt. Tôi không có dịp đi chợ người Việt phía dưới chân “cầu Sài Gòn”, vì người hướng dẫn nói chỗ đó phức tạp lắm. Chẳng hiểu “phức tạp” có nghĩa là gì, nhưng người hướng dẫn nói như vậy thì tôi cũng tạm nghe lời. Đến tối, tôi rủ anh lái xe tuk tuk đi chợ Việt Nam, nhưng anh ấy nói giờ này chẳng còn hàng quán nào mở cửa đâu. Thế là phải hẹn dịp sau.

Đáng lẽ chúng tôi đi thăm đồng hương ở Biển Hồ, nhưng vì hết thời gian (do có nhiều vị trong đoàn lang thang quá lâu trong Chợ Vòm), nên đành bỏ qua chuyến đi đó. Tôi đã từng xem qua những đoạn video do trung tâm văn nghệ Vân Sơn thu lại hình ảnh của đồng hương ta tại Biển Hồ và rất xúc động, nên định ghé qua cho biết. Họ là những người kẹt lại ở đó đã hơn 30 năm, và sống ngoài vòng pháp luật. Không nghề nghiệp vững vàng. Thế hệ thứ hai không biết tiếng Việt cũng chẳng rành tiếng Khmer. Thành ra, họ là những người sống bên lề xã hội, và chỉ sống quây quần nhau trong một môi trường bẩn thỉu. Dù biết rằng tôi không thể làm gì để giúp đồng hương, nhưng tôi nghĩ sự hiện diện của người Việt chắc cũng làm họ ấm lòng. Tôi thật không hiểu tại sao chính quyền Việt Nam không tỏ ra quan tâm đến những người đồng hương khốn khổ này. Nhưng đành phải hẹn lại dịp sau.

Thế là chúng tôi có một ngày rưỡi ở Phnom Penh. Thời gian ngắn quá, và chuyến đi chẳng khác gì “cưỡi ngựa xem hoa”, nên chẳng có ấn tượng gì hay nhận xét gì đáng ghi ra ở đây. Nhưng trong lòng thì thấy vui vui vì bộ mặt của đất nước một thời đau khổ này bây giờ đã có dấu hiệu hồi sinh.

(Còn tiếp …)

Ghi chép trên xứ chùa tháp 5 – Kì bí Angkor Thom

http://www.sacred-destinations.com/cambodia/images/angkor/thom/bayon-faces-cc-welsh-boy.jpgAngkor Thom hay Đế Thích theo cách gọi của người Việt Nam quả là một bí tích. Những pho tượng đá khổng lồ bốn mặt với nụ cười rất bí ẩn. Bí ẩn chẳng khác gì nụ cười của Mona Lisa. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết những khuôn mặt này là của ai, những lời giải thích cũng chỉ là giả thuyết, và do đó chủ nhân của những khuôn mặt vẫn là một bí ẩn. Có lẽ chúng ta không bao giờ biết được ý nghĩa của những pho tượng này, nhưng có thể xem Angkor Thom là một vũ trụ vi mô …


Xong chuyến thăm Angkor Wat, chúng tôi ghé thăm Angkor Thom hay Đế Thích. Đây cũng là một trong những đền quan trọng và có ý nghĩa đối với người Khmer và nước CPC. Angkor Thom thật ra là một quần thể phế tích gồm một cụm đền đài. Angkor Thom (cũng như Angkor Wat) không phải là nơi hoàng gia ở, cũng chẳng phải nơi chùa để thờ nguyện, mà là nơi để thờ các vị thần và tổ tiên của các vương triều Khmer. Hầu như đền đài nào trong quần thể Angkor Thom cũng quay về hướng Đông, và có suy luận rằng người Khmer thời đó có phong tục thờ mặt trời.

Angkor Thom được xây một cách vuông vắn, với chiều dài 3000 m và rộng 3000 m. Nói cách khác, diện tích của quần thể Angkor Thom lên đến 9 km^2! Chung quanh đền là hào rộng cỡ 100 m, ngày xưa dưới đó nghe nói thả cá sấu và rắn độc để phòng chống kẻ lạ xâm nhập. Ngày nay, phần lớn những khu chung quanh là rừng, nhưng xưa kia là một thành phố có thể nói là sầm uất. Như đề cập trong phần trước, Ankor Thom do vua Jayavarman VII xây dựng vào cuối thế kỉ 12 (Angkor Wat được xây vào đầu thế kỉ 12). Kiến trúc của Angkor Thom theo motif Bayon, rất khác với kiến trúc Angkor Wat.  

Tất cả các đền đài trong quần thể Angkor Thom đều được xây bằng đá ong và sa thạch. Mỗi viên đá có kích thước 20 x 12 x 4 cm đến 30 x 15 x 9 cm, tức lớn và nặng. Rất khó tưởng tượng được bằng cách nào mà người Khmer có thể tải những tảng đá khổng lồ như thế về đây và xây nên một thành quách kì vĩ như thế. Xem qua show tạp kĩ Nụ cười Angkor, tôi biết loáng thoáng là họ dùng gỗ để tải đá dọc theo dòng sông về đến nơi xây dựng, rồi sau đó dùng voi để tải đá lên công trường. Tôi hỏi nửa đùa nửa thật là chắc có nhiều người chết cho công trình này, thì người hướng dẫn (là người Khmer nhưng nói tiếng Việt rất thạo) nói đúng là có nhiều người chết, nhưng họ sẵn sàng hi sinh vì họ nghĩ rằng họ đóng góp vào một công trình vĩ đại để thờ thần thánh (chứ không phải bị chết theo kiểu xây vạn lí trường thành bên Tàu).

Cổng vào Angkor Thom thường là cổng phía Nam. Mỗi bên cổng có 27 tượng các vị thần ôm chặt một con rắn thần Naga, tượng trưng cho thần Siva bảo vệ chúng sinh, dẫn dắt chúng sinh từ trần tục đến với thánh thần. Hai mươi bảy thần thiện một bên, và 27 thần ác một bên. Người hướng dẫn cho biết rằng 2 rắn thần hai bên cổng còn là biểu trưng cho truyền thuyết khuấy biển thành sữa (như tôi đề cập đến trong show tạp kĩ Nụ cười Angkor trong phần trước). Nhưng theo George Coèdes thì 54 tượng trên cầu Naga đó là nhằm bảo vệ sự thịnh vượng của hoàng triều.

Cổng vào đền Angkor cao 23 m, và là phía trên là một tháp với 4 khuôn mặt. Đó là một “lời chào” cho thế giới kiến trúc Bayon trong đền. Phía dưới cổng tháp, hai bên là tượng voi 3 đầu đang hái hoa sen. Một bức tượng khó diễn giải ý nghĩa! Nhưng các học giả Khmer cho rằng tượng voi 3 đầu đó là tượng trưng cho thần Airavata là ngựa của thần Indra. Thần Indra là thần của bầu trời.

http://us.123rf.com/400wm/400/400/david78/david781205/david78120500128/13686695-south-gate-of-angkor-thom-cambodia.jpg
Cổng vào Angkor Thom - Đế Thích 

Trung tâm của quần thể Angkor Thom là đền Bayon. Đây là một đền thờ để thờ phụng Đức Phật Avalokitesvara. Tuy nói rằng những tượng này thể hiện Phật Avalokitesvara, nhưng nhiều học giả (kể cả George Coedès của trường Viễn Đông Bác Cổ) nghĩ rằng những bức tượng này là phản ảnh khuôn mặt của vua Jayavarman VII (người khởi xướng xây dựng công trình này), vì nhà vua xem mình gần ngang hàng với thần thánh! Có tất cả 54 tượng gương mặt; mỗi tượng có 4 mặt. Tại sao 4? Có thuyết cho rằng đó là tượng trưng cho Từ Bi Hỉ Xả, nhưng cũng có thuyết nói rằng 4 mặt tượng trưng cho 4 hướng (Đông Tây Nam Bắc) hàm ý Phật có mặt khắp nơi và có thể nhìn khắp nơi.

http://www.sacred-destinations.com/cambodia/images/angkor/thom/bayon-faces-cc-welsh-boy.jpg
Đền Bayon (kiến trúc Bayon) với những tượng đá bốn mặt

http://www.filigallery.com/d/143806-2/Bayon+-+Angkor+Thom+_37_.JPG
Những tượng đá bốn mặt làm cả thế giới phải ngưỡng phục về nghệ thuật chạm khắc 

Nói cách khác, có tất cả 54 x 4 = 216 gương mặt. Tại sao 216? Người hướng dẫn giải thích rằng ba chữ của 216 cộng lại là con số 9, và đây là con số thiêng mà người Khmer thời đó sùng bái. Ngay cả từ cổng vào đã có dấu ấn của con số 9. Cổng vào hai bên là hai con rắn 7 đầu, được 54 vị thần ôm chặt, 27 vị thần ác và 27 vị thần thiện. Những chữ số 54, 27 đều cộng lại thành con số 9.
Sự độc đáo ở đây là trong số 216 gương mặt, không có gương mặt nào giống gương mặt nào! Mỗi gương mặt là đặc thù. Mỗi gương mặt có một nụ cười kì bí (hay bí hiểm?) làm cho người xem tự hỏi đó là nụ cười gì. Rất vô thường. Tất cả đều được khắc chạm rất tinh vi. Có thể xem đây là những tác phẩm nghệ thuật trên đá.

Hầu như bất cứ phiến đá nào cũng được chạm khắc phù điêu hay hoa văn. Nét khắc cực kì tinh tế. Phù điêu ở đây mô tả một kinh đô sầm uất, thịnh vượng. Dĩ nhiên, không thể thiếu những nữ thần Apsara xuất hiện khắp nơi, với ngực trần nở nang, eo thon, hông rộng trong nhiều dáng vẻ khác nhau. Nghe nói có hơn 1000 hình nữ thần Apsara ở đây! Mỗi hình là đặc thù, không hình nào giống hình nào. Có lẽ mỗi nghệ nhân khắc hoạ một nữ thần chăng? Nếu nhìn kĩ những nét vẻ này, người ta cũng có thể lĩnh hội một vài bài học cơ thể học rất tốt. Từ cơ bắp của đàn ông đến những eo phụ nữ đều được khắc vẽ cực kì tinh vi, không có vết nứt! Tôi không thể nào tưởng tượng nổi các nghệ nhân phải tốn bao nhiêu thời gian để hoàn tất tác phẩm vĩ đại này. Những ai từng đến Ý và ngưỡng phục tác phẩm của Michelangelo, thì đến đây sẽ thấy tác phẩm của Michelangelo … chẳng nhằm nhò gì so với các nghệ nhân vô danh người Khmer.

Người Khmer ít để lại sử sách, nhưng cổ sử của họ lại được tạc trên đá. Các bức phù điêu ở đền Bayon hình như được khắc khác thời điểm. Các bức phù điêu ở phía trong có lẽ được chạm khắc trước các bức phù điêu phía ngoài tường (có lẽ vào đầu thế kỉ 13). Có 8 phần phù điêu trên tường ngoài, mỗi bức dài đến 35 m và cao 3 m. Những bức phù điêu này mô tả những trận đánh với lính Chăm, nhưng cũng có phù điêu tả cảnh sinh hoạt hàng ngày như cảnh chợ búa và người đi chợ đang cân hàng, phụ nữ đùa với trẻ em, cảnh người bắt cá sấu, bắt rùa, cảnh người Tàu đang nấu nướng, và cảnh đá gà. Nói chung những bức phù điêu này cho chúng ta một số ý niệm về sinh hoạt và chiến đấu của người Khmer thời thế kỉ 12-13.

Có một bức phù điêu mô tả cảnh diễu hành của triều đình. Bức phù điêu này cũng nhất quán với những ghi chú của Châu Đạt Quan, một người Tàu đời Nguyên (1296 – 1297), từng đến đây vào năm 1296. Trong một ghi chú, Chu Đạt Quan mô tả cảnh tuần hành của triều đình như sau: “Khi nhà vua ra khỏi điện, binh lính đi dẫn đầu; kế đến là cờ, biểu ngữ và âm nhạc. Cung nữ, từ ba đến năm trăm, mặc y phục trang trí hoa, hoa cài trên tóc, cầm đèn cây trên tay, và tạo thành một đội. Ngay cả lúc ban ngày, đèn cầy vẫn được thắp đốt. Kế đến là những tì nữ, mang giáo và khiêng, nhóm hộ vệ vua, xe kéo bởi dê và ngựa, làm bằng vàng đi kế tiếp. Các quan lại và hoàng tử ngồi trên lưng voi, và đằng trước họ, người ta có thể thấy từ xa, hằng hà sa số gọng dù màu đỏ. Sau họ là vợ và các nàng hầu của vua trong cáng, xe keo, trên lưng ngựa và lưng voi. Ho có hơn một trăm lọng trang trí bằng vàng. Sau họ là nhà vua, đứng trên lưng voi, cầm gươm thiêng. Ngà voi được bao bọc bằng vàng.” 

Sau đây là vài phù điêu:

http://i215.photobucket.com/albums/cc311/noirehan/SAM_1646_800x600.jpg
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhdYwsaSdOvWATEg6wIzwA8oq7jgrJ5sfcKCuAjFly5FeCy58U5mwyAKFghbeUCyxL705eJXkx63x0yA3Y4CtVLEl-N8t9r5MKDCyC2VaH5E2vg-BMgMEMiJqC2NiX7JJAQcHSbWgTujUc/s1600/b&w+bayon+wall+carving.JPG
Cảnh xuất quân 

http://farm3.staticflickr.com/2709/5735882326_297039e72f_z.jpg
Một bức phù điêu hoàng tráng

http://chaongaymoi.vn/data/data/xuso3.jpg

Nữ thần Apsara, không ai giống ai!

Bên cạnh đền Bayon (hay phía sau? tôi quên) có một đấu trường. Sở dĩ suy luận là đấu trường vì tường còn ghi lại những cuộc đấu voi. Người hướng dẫn cho biết nơi này cũng từng là nơi trừng trị những tội phạm hay kẻ phản bội. Kẻ có tội bị nhốt ở đây cùng với rắn độc. Người nào không bị rắn độc cắn chết thì được xem là … vô tội. Nếu đúng như thế thì đây là một cách xử án độc đáo!

http://mw2.google.com/mw-panoramio/photos/medium/7996819.jpg
Khu đấu voi (Elephant Terrace) 

Trong quần thể Angkor Thom còn có một đền nổi tiếng có tên là Ta Prohm được xây dựng từ cuối thế kỉ 12 đến đầu thế kỉ 13, nằm phía Đông của quần thể Angkor Thom. Diện tích rộng 700 m và dài 1000 m. Nghe nói để xây Ta Prohm triều đình phải tốn đến 5 vạn lượng vàng, 5 vạn lượng bạc và nhiều đá quí. Thật ra, Ta Prohn là một tu viện Phật giáo đại thừa của vua Jayavarman VII. Trước đây tu viện này có tên là Rajavihara (tức đền Hoàng gia) mà vua dùng để tôn vinh dòng họ ông. Đến đời vua Jayavarman VIII thì ông ra lệnh phá huỷ những hình tượng mang dấu ấn Phật giáo và thay vào đó là những hình tượng Bà La Môn. Những thăng trầm lịch sử sau đó để lại một phế tích pha trộn giữa Phật giáo và Bà La Môn.

Tu viện Ta Prohm được trường Viễn Đông Bác Cổ chọn không “can thiệp”, và để trong trạng thái nguyên vẹn từ lúc phát hiện vào thế kỉ 19. Do đó, du khách đến đây có thể nhìn thấy những cây cổ thụ quấn quyện chung quanh những đền đài như nuốc chửng vậy. Có những cây nghe nói là Kơnia ôm trọn một đền một cách kì quái.   Chính vì nét hoang tàn và tình trạng nguyên sơ này mà Ta Prohm là một trong những điểm đến mà du khách tham quan nhiều nhất trong quần thể Angkor Thom.

Trong Ta Prohm có một điện để tưởng niệm thân mẫu của vua là Jayarajachudanami, với ngôi mộ ngay trong điện. Theo người hướng dẫn, điện này được gắn kim cương trên 4 bức tường, nên vào đêm có thể phản chiếu rực rỡ vào những đêm có trăng. Vẫn theo người hướng dẫn, vào thế kỉ 13 những viên kim cương đã bị quân Thái Lan và Miến Điện xâm lăng ăn cắp hết, và nay chỉ còn lại những lỗ nhỏ trên tường như là chứng tích của một thời vàng son.

Núi Bakheng (Phnom Bakheng) 

Tham quan xong đền Angkor Thom, chúng tôi lại lên đường đi Núi Bakheng để ngắm hoàng hôn lặn. Bakheng nằm giữa Angkor Thom và Angkor Wat. Người hướng dẫn cam đoan rằng chúng tôi sẽ thích. Quả thật, tôi rất thích và thấy mình may mắn đã được đến đây để trải nghiệm một buổi chiều đầy ý nghĩa. Thật ra, phải nói là Đồi Bakheng thì đúng hơn (chứ không hẳn là núi), vì chữ Phnom trong tiếng Khmer có nghĩa là Đồi.  

http://www.anntours.com/Cambodia/images/Cambodia_Phnom_Bakheng.jpg
Đường lên Phnom Bakheng

Từ chân đồi, chúng tôi đi bộ lên đỉnh đồi tốn khoảng 30 phút. Đến nơi thì thấy có quá nhiều du khách, nên chúng tôi phải đứng xếp hàng đợi lên đền Bakhen. Phải tốn cả 20 phút xếp hàng mới đến phiên mình để được lên đỉnh đồi, và cũng chỉ có thể lưu lại độ 10 phút (vì phải nhường chỗ cho người khác). Tất cả đều đến đây với một mục đích đơn giản: nhìn mặt trời sắp lặn trên Biển Hồ Tonle Sap. Do đó, tất cả khách đều nhìn về hướng Tây. Do đó, có thể xem Phnom Bakheng là một vọng đài.

http://www.reto.com/wp-content/uploads/2011/05/hdr_phnombakheng.jpg
Lên đỉnh đồi, chờ mặt trời lặn

Phnom Bakheng được xem là một ngọn đồi linh thiêng của người Khmer. Ngày xưa, Phnom Bakheng là trung tâm của vương quốc Khmer đầu tiên ở Angkor. Trên đỉnh đồi Bakheng là một đền cổ cũng xây bằng đá, nhỏ hơn các đền khác (diện tích khoảng 50 m x 50 m). Giữa đền là một cái tháp, và chung quanh là bốn bộ linga. Một điều thú vị là khu này có vài tháp Chăm bằng gạch giống như ở Nha Trang. Tôi không thể lí giải tại sao có những tháp Chăm ở đây. Có lẽ ngày xưa đã có một sự giao lưu văn hoá giữa người Chăm và người Khmer, nhưng cũng có thể các vua Khmer bắt các nghệ nhân Chăm về đây để xây những tháp này. Nhưng qua thời gian và quên lãng nên những vật thể chung quanh đền đã đổ nát khá nhiều. Khi nhà tự nhiên học người Pháp Mouhot từng đến đây (lần đầu?) vào thế kỉ 19, và ông có ghi lại cảm tưởng như sau:

“Tất cả vùng này giờ đây vắng lặng và hiu quạnh, mà trước kia chắc chắn phải là sống động, nhộn nhịp và vui vẻ. Nay chỉ còn lại tiếng hú của các loài dã thú và các tiếng chim kêu giữa sự im lặng cô đơn mà thôi.”

Tuy ngày nay không có dã thú, nhưng những cảm ưởng của ông cũng chính là cảm tưởng của tôi.

Kết thúc một ngày đi tham quan quần thể Đế Thiên – Đế Thích. Thế là tôi đã đạt được ước nguyện đời ghé thăm nơi tôi từng mơ ước thì lúc còn nhỏ. Nhưng vẫn chưa đủ. Tôi nhất định sẽ quay lại Siem Reap để tìm hiểu kĩ hơn về Angkor Thom và Angkor Wat, và đi thăm những đền nhỏ khác mà chuyến đi này chưa cho phép (do eo hẹp thời gian).

(Còn tiếp ...)

Ghi chép trên xứ chùa tháp 3 – Siem Reap và Nụ cười Angkor

http://travel.roro44.com/asia/cambodia/Street_Siem_Reap_Cambodia.jpgĐến 5 giờ chiều thì xe chúng tôi vào Thành phố Siem Reap. Hai bên đường có vẻ trù phú hơn và cây cối cũng xanh tươi hơn các tỉnh chúng tôi mới đi qua. Thành phố Siem Reap là thủ phủ của tỉnh Siem Reap (cùng tên), nằm hướng tây bắc của CPC. Người hướng dẫn đoàn nói Siem Reap từng là kinh đô của vương quốc CPC ngày xưa, làm tôi liên tưởng đến Hoa Lư là kinh đô cổ của Việt Nam. Vì là kinh đô, nên Siem Reap có một lịch sử lâu đời và đầy màu sắc chiến tranh. Nhưng ngày nay thì Siem Reap là một khu đô thị êm đềm, và theo tôi, cũng có một cái “duyên dáng” của một thành phố cổ, nhất là nằm bên cạnh Biển Hồ.


Siem Reap 

Tên của Siem Reap cũng có một lịch sử thú vị. Siam hay Siem dĩ nhiên có nghĩa là Thái Lan. Reap có nghĩa là đánh bại. Do đó, chữ Siem Reap có nghĩa là đánh bại Thái Lan. Thành phố có tên Siem Reap từ thế kỉ 16, khi vua Ang Chan đánh bại quân xâm lược Thái Lan, bắt sống hơn 10 ngàn quân Thái, và bắn chết thái tử Ong của Thái Lan ngay trên lưng voi. Để kỉ niệm chiến công hiển hách này, vua Ang Chan cho đổi tên tỉnh thành Siem Reap. Tôi hỏi đùa anh hướng dẫn đoàn là cách đặt tên như thế có đụng chạm đối với du khách Thái Lan đến đây không, thì anh ấy cười và nói khi hướng dẫn đoàn Thái Lan anh ấy đề cập đến Siem Reap bằng một cái tên khác “trung dung” hơn.

http://farm5.staticflickr.com/4081/4812447007_348b99b42d.jpg
Đường đến Siem Reap, cây cối xanh tươi hai bên đường

Bằng chứng khảo cổ học cho thấy Siem Reap đã có người định cư từ 1000 năm trước Công nguyên. Người dân Siem Reap thời đó cũng canh tác lúa, cũng ăn gạo, cũng có những công trình chống lũ lụt như người dân thời nay. Từ thế kỉ 9 đến 13, vương triều Khmer ngự trị Siem Reap, và đã cho xây dựng những công trình kiến trúc kì vĩ vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay. Vào thời cực thịnh đó, Siem Reap có khoảng 600 ngàn đến 1 triệu cư dân. Nhưng người dân Siem Reap phải liên tục chống trả những cuộc xâm lăng từ người Thái và Việt. Một người bạn Khmer của tôi thường đùa rằng CPC rất bất hạnh vì phải sống giữa một bên là con rắn (chỉ Thái Lan) và một bên là con rồng (chỉ Việt), lúc nào cũng chờ chực nuốt chững nước CPC bé nhỏ. Cách ví von này làm tôi nghĩ đến Việt Nam cũng là một nước bất hạnh vì phải sống bên cạnh một con rồng khổng lồ nhưng nổi tiếng xấu tính.

Quay lại câu chuyện lịch sử Siem Reap, trong thời gian 1362 đến 1392, Siem Reap kinh qua một mùa khô hạn lớn. Đến năm 1415 và 1440, Siem Reap lại trải qua hai mùa khô hạn nữa! Những thiên tai này làm cho vương triều Khmer suy yếu, và thừa cơ hội, Thái Lan tấn công kinh thành Angkor. Vì nghĩ rằng những trận hạn hán và xâm lăng của Thái Lan là trời trừng phạt, nên triều đình quyết định dời đô về Phnom Penh. Thế là Siem Reap và các đền Angkor Thom, Angkor Wat, v.v. bị bỏ hoang (chỉ có các nhà sư ở lại), nhưng người Khmer không bao giờ quên những công trình này.

Siem Reap và Angkor Thom - Angkor Wat chỉ “hồi sinh” từ thế kỉ 19. Năm 1863, người Pháp bắt đầu có mặt ở CPC. Vào thế kỉ 19, Siem Reap chỉ là một cái làng thưa thớt cư dân. Qua những ghi chép của các thừa sai người Pháp, thế giới mới biết được những công trình kiến trúc vĩ đại của người Khmer, và Siem Reap bắt đầu thu hút du khách phương Tây. Ngày nay, Siem Reap là một điểm đến của rất nhiều du khách khắp thế giới. Đến CPC mà chưa đến Siem Reap là một thiếu sót lớn. Do đó, trên đường phố Siem Reap lúc nào cũng có bóng dáng người Âu Mĩ, và dĩ nhiên là người Việt. Cùng với du lịch, Siem Reap có nhiều khách sạn sang trọng. Chỉ cần đi dọc theo lộ chính tôi đã đếm được cả 5 khách sạn 5 sao với những thương hiệu nổi tiếng như Sofitel, Raffle, Meridien, v.v.

Theo số liệu chính thức thì tỉnh Siem Reap ngày nay có khoảng 890 ngàn dân, nhưng thành phố Siem Reap thì chỉ có 174 ngàn dân. Đường phố Siem Reap cũng chẳng khác đường phố Việt Nam bao nhiêu. Ở đây cũng có xe Honda chạy bên cạnh xe hơi. Thật ra, xe hơi xem ra còn nhiều hơn xe gắn máy. Tôi thấy rất nhiều xe hiệu Lexus và Toyota, nhưng rất ít các hiệu khác như Honda hay Mazda, và càng hiếm Mitshubishi. Nghe nói giá một chiếc Lexus ở đây chỉ khoảng 5000 USD, nên những người có tiền rất thích loại xe này. Nhưng ở Siem Reap không có nạn kẹt xe như ở các thành phố lớn của Việt Nam.

Hai bên đường phố Siem Reap cũng thỉnh thoảng xuất hiện những toà nhà xây theo biệt thự đời Pháp để lại. Cũng những dây điện giăng kính mặt tiền của nhà và các bản hiệu.

http://heathersharmony.me/wp-content/uploads/2012/09/Siem_reap.jpg
Đường phố Siem Reap cũng dây điện giăng tùm lum, chẳng khác gì Sài Gòn hay Hà Nội 

Một điểm nổi bật và đáng kính ở Siem Reap là tất cả nhà và building ở đây đều thấp thấp. Thật ra đó là luật. Giới chức CPC không cho phép toà nhà nào xây cao quá 65 m. Tại sao con số 65? Tại vì đền cao nhất trong quần thể phế tích Angkor Thom và Angkok Wat cao 65 m. Do đó, để tỏ lòng tôn kính di tích, tất cả cấu trúc ở đây không được xây cao hơn 65 m. Luật này có cái hay là nó tạo nên một cảnh quan đẹp và thứ tự, không có tình trạng nhô lên thụt xuống như ở các thành phố Việt Nam.

http://www.globaltravelmate.com/uploads/images/cambodia/siem_reap/siem_reap_pubstreet.jpg
Một con đường nổi tiếng của Siem Reap chuyên bán thức ăn và bia về đêm

Đoàn chúng tôi đã đặt phòng ở một khách sạn 3 sao, rất cổ kính. Đây là một villa của một gia đình rất giàu có ngày xưa ở thành phố Siem Reap. Phòng ốc đều làm bằng gỗ rất đẹp. Tuy hơn 100 năm rồi, nhưng chất lượng vẫn còn cực kì tốt. Khách sạn có đầy đủ tiện nghi, kể cả internet và wifi. Bên trái khách sạn là một quán cà phê Pháp, nơi tôi hay ngồi nhâm nhi đọc sách. Bên phải khách sạn là một quán bán hủ tíu, nơi tôi thưởng thức món hủ tíu Nam Vang mỗi sáng.

Nụ cười Angkor 

Mới nhận phòng xong thì tôi biết đêm nay (31/12) có show diễn Nụ cười Angkor – Smile of Angkok. Nhân viên tiếp tân khách sạn cho biết sô diễn này rất hoành tráng, khách đến đây đều xem qua và rất ấn tượng. Thế là đoàn chúng tôi quyết định đi. Chúng tôi chỉ có 35 phút để đi đến nơi, nhưng người tài xế nói ok, chẳng có gì phải lo!

Anh tài xế nói đúng, vì từ khách sạn đến rạp hát chỉ 20 phút. Rạp hát hay đúng hơn là hí viện rất lớn nằm giữa đồng không, y như hí viện tôi từng ghé ở Pattaya vậy. Khi đoàn chúng tôi đến thì đã có hàng chục xe bus với hàng trăm du khách đang chờ. Chúng tôi mua vé, mỗi vé tốn 38 USD đến 48 USD, tuỳ theo hạng ghế. Tôi rất ấn tượng với cách tổ chức ở đây. Từ cổng vào đến cổng ra, tất cả đều được thiết kế rất logic để tránh tình trạng lộn xộn. Vào rạp thì đã có người hướng dẫn chỉ ghế ngồi, đâu ra đó, không có tình trạng ồn ào và vô lối như ở Việt Nam.

http://www.angkorera.com/themes/default/images/smile_of_angkor.jpg
Bích chương quảng cáo show tạp kĩ Nụ cười Angkor

Nụ cười Angkor quả là một show văn nghệ hoành tráng. Đạo diễn của show văn nghệ là nghệ sĩ trứ danh Trương Nghệ Mưu. Nghe nói khi Trương Nghệ Mưu ghé thăm Siem Reap mấy năm trước, và đọc được lịch sử của thành phố cùng những phế tích nổi tiếng ở đây, ông có ý định dựng show Nụ cười Angkok. Cái tên này có lẽ lấy cảm hứng từ những bức tượng 4 mặt ở đền Bayon trong quần thể Angkor Thom. Đó là những gương mặt có nụ cười bí hiểm, giông giống như nụ cười của Mona Lisa, nhưng phảng phất triết lí vô thường của Phật giáo. Chẳng những dựng show văn nghệ, ông còn huấn luyện và tài trợ cho chương trình. Ông xem đó là một món quà ông cho người dân CPC.

Show diễn gồm 5 phần: hỏi thần, vương quốc huy hoàng, sự hồi sinh của những vị thần, khuấy biển thành sữa, lời nguyện cầu cho cuộc sống, và kết thúc với show diễn nụ cười Angkor. Tất cả năm vỡ kịch được dàn dựng dựa trên truyền thuyết và văn hoá Khmer. Xem qua show tạp kĩ này, chúng ta cũng có thể hình dung một cách khái quát về lịch sử hình thành của vương quốc Khmer, và lịch sử đấu tranh chống những thế lực xâm lăng. Show diễn còn cho chúng ta thấy nền văn minh sáng chói của Khmer, qua những công trình kiến trúc vĩ đại như Angkor Wat và Angkor Thom. Nghe nói show tạp kĩ này được đánh giá là hoành tráng nhất và lớn nhất Đông nam Á.

Show diễn có sự tham gia của những nghệ sĩ số 1 và những vũ công Apsara hàng đầu của CPC. Điều đáng nói là trong nhóm vũ công, có một số là trẻ mồ côi, một số là những người thân của các nạn nhân bom mìn trong thời chiến tranh. Do đó, khi các vũ công xuống chào khách sau show diễn, chúng ta dễ nhận ra những nét “chân đất” của họ. Do đó, đến đây thưởng thức một show hoành tráng nhưng cũng là một cách giúp đỡ người Khmer. Tất cả trang phục đều dựa trên mô hình của những hoa văn, phù điêu hay thấy trong Angkok Wat.
Show tạp kĩ dùng những kĩ thuật tân kì nhất như đèn LED, tia laser, ánh sáng, khói, màn nước. Kĩ thuật này không khác gì những show nhạc của Thuý Nga Paris by Night. Với màn hình rất lớn cùng âm thanh 3 chiều tạo cho khán giả cảm giác đang sống trong môi trường của 1000 năm về trước. Trong hơn 1 tiếng đồng hồ, khán giả hào hứng theo dõi những show diễn cực kì điêu luyện và hào hứng. Những vũ điệu truyền thống của những vũ công cùng những hoạt hình sống động làm cho khán giả không thể nào chợp mắt theo dõi những diễn biến quan trọng của sự hình thành Angkor Thom và Angkor Wat.

Tôi đã có hơn một giờ rất ấn tượng ở đây. Điều làm tôi chú ý là phần phụ đề có 4 tiếng theo thứ tự: Tàu, Anh, Việt, Hàn. Tôi tự hỏi tại sao tiếng Tàu lại đứng đầu ở đây? Có phải vì người dựng show là người gốc Tàu, hay vì CPC chịu ảnh hưởng của Tàu quá nhiều? Sau này tôi mới hiểu rằng show diễn có sự tài trợ của Bộ Văn hoá và Thông tin của Tàu. Show diễn này có thể xem như là một màn dạo đầu cho chương trình tham quan Angkor Thom và Angkor Wat.

http://www.diamondelephanttravel.com/userfiles/smile-of-angkor2.jpg
Một màn diễn với các vũ công điêu luyện

http://farm7.staticflickr.com/6038/6426985745_327c9ef6d0_z.jpg
Màn diễn quấy biển thành sữa

http://farm8.staticflickr.com/7164/6548290735_8d847455cc_z.jpg
Một màn diễn mô tả một trận chiến chống ngoại xâm

Về đến khách sạn, tôi mới chợt nhớ đêm nay là đêm giao thừa năm mới. Nhưng lạ thay, cả thành phố không có gì để gọi là chào mừng năm mới cả. Hỏi người hướng dẫn tôi mới biết là thông thường thì người dân ở đây cũng ăn mừng năm mới (Tây), nhưng năm nay vì vua Norodom Sihanouk mới băng hà, nên người dân không ăn mừng năm mới như là một cách tỏ lòng thương tiếc nhà vua.

Norodom Sihanouk là một nhân vật chính trị rất thú vị. Tôi từng đọc sách về ông hoàng này và thấy cuốn hút theo sự nghiệp của ông. Sihanouk sinh ngày 31/10/1922, và qua đời ngày 15/10/2012, thọ 89 tuổi. Thưở nhỏ, ông theo học tại trường trung học Chasseloup – Laubat ở Sài Gòn. Năm 1941, sau khi vua Monivong qua đời, Norodom Sihanouk lên ngôi vua lúc mới 19 tuổi. Trong suốt thời gian từ 1941 đến cuối thể kỉ 20, ông đã trải qua những vai trò như vua, thủ tướng, nhà cách mạng chống cộng sản, lãnh tụ lưu vong, và đến năm 2004 thì lại trở thành vua một lần nữa. Theo sách CPC thì vào thập niên 1950s, ông Ngô Đình Nhu từng tổ chức ám sát ông Sihanouk, nhưng sự việc không thành. Ông Sihanouk có lần xem ông Hồ Chí Minh như là “cha”, nhưng ông cũng sẵn sàng chống cộng sản, hay thân cộng sản. Ông cũng có khi chống Mĩ, nhưng sau này thì thân Mĩ. Nói chung, tôi thấy ông là một chính khách rất phức tạp. Có lẽ trong tâm trí ông, ông làm bất cứ việc gì, miễn là có lợi cho người dân CPC.

http://d3trabu2dfbdfb.cloudfront.net/1/8/1843250_300x300.jpeg
Vua Norodom Sihanouk (30/10/1922 - 15/10/2012)

Sự nghiệp chính trị của ông Sihanouk có thể ví như cái võng. Lúc thì ông theo bên này, lúc ông bỏ chạy sang bên kia. Trong thời chiến tranh Việt Nam, ông giữ CPC ở thế trung lập, không thân cộng sản mà cũng chẳng theo Mĩ. Nhưng khi Bắc Việt bắt đầu sử dụng cảng Sihanoukville để xâm nhập miền Nam, thì ông làm thân với Mĩ. Ông làm ngơ để cho Nixon dội bom xuống miền Bắc Việt Nam. Nhưng sau khi ông bị lật đổ thì ông nghi Mĩ đứng đằng sau, nên ông làm bạn với phe cộng sản. Đến khi Khmer Đỏ lộ nguyên hình là kẻ diệt chủng, thì ông trở thành người lưu vong và thân phương Tây. Mãi đến năm 1993 ông mới quay về CPC qua sự dàn xếp của Liên Hiệp Quốc.   Khi ông lên ngôi vua lần thứ hai thì con trai ông là thái tử Ranariddh (lãnh đạo đảng Funcipec) thắng cử thủ tướng, nhưng phe Hun Sen không chịu, và thế là ông dàn xếp có hai thủ tướng. Nhưng trong chế độ hai thủ tướng thì ông lại thân với Hun Sen hơn là với con mình. Thật ra, chính ông đóng vai trò hạ bệ Ranariddh để Hun Sen trở thành thủ tướng. Rất nhiều người phê phán về thái độ chính trị đa màu sắc của ông, nhưng hình như ông chẳng quan tâm. Ông nói đơn giản rằng ông làm tất cả điều có thể làm để đảm bảo hoà bình, vẹn toàn lãnh thổ, và hạnh phúc của người dân. Thành ra, người dân tôn kính ông là phải.

Ít người biết rằng ngoài hoạt động chính trị, ông Sihanouk còn là một nghệ sĩ có hạng. Ông yêu thích nhạc và điện ảnh. Là một nhạc sĩ saxophone, ông từng dùng kèn để chiêu đãi các phái đoàn ngoại giao qua những sáng tác của chính ông. Ông còn là nhà đạo diễn, giám đốc phim, và viết kịch bản cho 19 phim. Giới kí giả phương Tây thường viết rằng ông Sihanouk là một người rất sành điệu trong ăn uống, đặc biệt là những món ăn Tây. Trong thời gian lưu vong bên Pháp, ông thường tổ chức những buổi dạ tiệc với những món ăn cầu kì dành cho khách nước ngoài.

Siem Reap có một khu dành cho hoàng gia. Vì vua mới băng hà, và phải chờ đúng 100 ngày mới hoả táng, nên năm nay Thành phố Siem Reap không có tổ chức bắn pháo bông, và cũng không có những chương trình văn nghệ ồn ào. Thay vào đó, nhà chức trách địa phương thiết lập một bàn thờ tạm phía ngoài cung điện của hoàng gia để người dân có thể đến đó dâng hương. Thật là đáng nể! Thái độ của người dân CPC làm tôi nhớ mấy năm trước ở Việt Nam. Lúc đó, miền Trung bị một trận bão lụt rất nặng nề, với cả trăm người chết, ấy thế mà ở Hà Nội, người ta vẫn ca hát ăn mừng như không có chuyện gì xảy ra. Sự vô cảm với đồng bào ở Việt Nam phải nói là ở qui mô kinh khủng so với người dân CPC. Hoá ra, sau bao nhiêu năm chiến tranh và bị vùi dập trong chế độ Pol Pot, người Khmer vẫn còn duy trì được một chuẩn mực đạo đức và văn hoá đáng nể.

(Còn tiếp ...)